
Diện mạo xã vùng cao Thắng Mố đổi thay rõ rệt nhờ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Từ chính sách an sinh đến những điểm tựa thiết thực cho người dân
Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) được Tuyên Quang xác định là những trụ cột quan trọng, góp phần bảo đảm cuộc sống và giảm thiểu rủi ro cho người dân, nhất là người dân ở khu vực còn nhiều khó khăn.
Để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, ngành BHXH và các địa phương trong tỉnh đã đổi mới mạnh mẽ phương thức tuyên truyền, hướng về cơ sở, đến gần người dân theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà”. Tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cán bộ trực tiếp xuống thôn, bản, lựa chọn cách tuyên truyền dễ hiểu, sử dụng những tình huống thực tế, hình ảnh trực quan để giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia chính sách. Tính đến cuối tháng 07/2026, toàn tỉnh có trên 29.600 người tham gia BHXH tự nguyện, đạt 75,54% kế hoạch giao; số người tham gia BHYT hộ gia đình đạt 22.232 người, bằng 72,12% kế hoạch. Cùng với tuyên truyền trực tiếp, truyền thông trên môi trường số được đẩy mạnh, tạo thêm kênh tiếp cận chính sách thuận tiện, nhanh chóng. Fanpage của BHXH tỉnh đạt hơn 1 triệu lượt xem và hơn 56.000 lượt tương tác, góp phần đưa thông tin về chính sách an sinh đến đông đảo người dân.
Cùng với bảo đảm an sinh xã hội, Tuyên Quang xác định giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ chính trị quan trọng, được triển khai theo hướng đa chiều, gắn giảm nghèo với bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản và tạo điều kiện để người dân ổn định đời sống, phát triển sinh kế. Theo Kế hoạch số 46/KH-UBND, năm 2026 tỉnh phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều 3,5%; riêng các xã vùng sâu, vùng xa có tỷ lệ hộ nghèo trên 20%, mức giảm phấn đấu từ 4-6% trở lên. Để thực hiện mục tiêu này, tỉnh tập trung hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận các nguồn lực thiết yếu. Phấn đấu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu sản xuất, kinh doanh được tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi; 100% người nghèo được hỗ trợ tham gia BHYT, đưa tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân đạt 97,1%. Trong lĩnh vực giáo dục, thực hiện đầy đủ chính sách miễn, giảm học phí và các chính sách hỗ trợ theo quy định đối với học sinh thuộc hộ nghèo; đồng thời chú trọng đào tạo nghề, phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 67,6%.
Các mục tiêu về nước sạch, vệ sinh môi trường và nhà ở được xác định cụ thể trong kế hoạch thực hiện giảm nghèo năm 2026. Theo đó, phấn đấu đến cuối năm 2026 có 85% hộ nghèo được sử dụng nước hợp vệ sinh và 65% hộ nghèo có nhà tiêu hợp vệ sinh, qua đó từng bước cải thiện điều kiện sinh hoạt và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Ông Nguyễn Văn Dưng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang kiểm tra, nắm tình hình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Khơi dậy nội lực từ những mô hình sinh kế
Cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ, Tuyên Quang chú trọng tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển kinh tế, lựa chọn mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện thực tế. Tại nhiều địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người dân từng bước thay đổi phương thức sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, qua đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.
Tại xã Đồng Văn, anh Ly Phái Sính, Trưởng thôn Sính Lủng Chứ, là một trong những người tiên phong chuyển đổi phương thức sản xuất. Từ diện tích trồng ngô kém hiệu quả, anh mạnh dạn chuyển sang trồng sâm khoai, nho Hạ đen và cây hạt dẻ, mang lại thu nhập hơn 200 triệu đồng mỗi năm. Từ hiệu quả thực tế của mô hình, anh tiếp tục vận động, hướng dẫn người dân trong thôn thay đổi cách nghĩ, cách làm, lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện và lợi thế của địa phương. Cùng với việc khơi dậy nội lực của người dân, các chương trình hỗ trợ sinh kế cũng được triển khai theo hướng sát nhu cầu và điều kiện thực tế của từng hộ. Tại xã biên giới Minh Tân, việc rà soát, lựa chọn mô hình sản xuất được chú trọng, ưu tiên những mô hình chăn nuôi có khả năng phát triển, tạo sinh kế ổn định và có thể nhân rộng. Gia đình chị Nguyễn Thị Liễu ở thôn Bản Hình là một trường hợp cụ thể. Nhiều năm thuộc diện hộ cận nghèo, thu nhập chủ yếu từ trồng ngô nên đời sống còn khó khăn. Đầu năm 2026, thông qua chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất, gia đình chị được cấp một cặp trâu sinh sản. Có thêm tư liệu sản xuất, gia đình chị từng bước phát triển chăn nuôi, tạo nguồn thu nhập, tích lũy tài sản và hướng tới thoát nghèo bền vững.
Không chỉ hỗ trợ chăn nuôi, các địa phương còn căn cứ điều kiện sản xuất để hướng dẫn người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tại thôn Quyết Tiến, xã Quản Bạ, gia đình anh Vàng Mí Sính đã chuyển hơn 3.000m² đất trồng ngô kém hiệu quả sang trồng rau hàng hóa. Được hỗ trợ giống, vật tư sản xuất và hướng dẫn kỹ thuật, mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trước. Sau hai năm triển khai, gia đình anh đã thoát nghèo và tiếp tục mở rộng diện tích canh tác. Theo anh Sính, chuyển sang trồng rau giúp gia đình nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống và có điều kiện phát triển kinh tế lâu dài.
Từ những mô hình cụ thể trên có thể thấy, hiệu quả của chính sách giảm nghèo không chỉ nằm ở giá trị hỗ trợ mà còn ở khả năng tạo ra tư liệu sản xuất, sinh kế và cơ hội để người dân tự vươn lên. Nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo tại các xã vùng cao đã từng bước ổn định cuộc sống, nâng cao thu nhập nhờ được hỗ trợ đúng nhu cầu và phù hợp với điều kiện thực tế.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang, cho biết các chương trình, chính sách của Nhà nước là nguồn lực quan trọng hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, để giảm nghèo bền vững, yếu tố quyết định vẫn là sự chủ động, nỗ lực vươn lên của mỗi hộ gia đình. Khi người dân thay đổi nhận thức, phát huy lợi thế và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hiệu quả giảm nghèo sẽ được nâng cao và duy trì lâu dài.
Gắn bảo tồn văn hóa với sinh kế, củng cố niềm tin của Nhân dân
Cùng với phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, Tuyên Quang chú trọng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc, xem đây là nguồn lực nội sinh cho phát triển. Toàn tỉnh hiện có 663 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó 53 di sản cấp quốc gia. Những giá trị văn hóa như Then, Páo dung, Sình ca, phong tục, tập quán, nghề truyền thống và không gian văn hóa cộng đồng đang được gìn giữ, đồng thời khai thác phù hợp gắn với phát triển du lịch. Các mô hình du lịch cộng đồng, homestay, du lịch trải nghiệm tại các làng văn hóa tạo thêm việc làm, thu nhập cho người dân, nhất là phụ nữ và thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển sinh kế không chỉ nâng cao giá trị của di sản mà còn tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển kinh tế địa phương.

Đại sứ Thuỵ Sỹ tại Việt Nam thăm làng văn hóa Lô Lô Chải ở Tuyên Quang
Cùng với phát triển sinh kế, sự đồng thuận của Nhân dân được xác định là điều kiện quan trọng để các chính sách đi vào cuộc sống. Tại các địa phương như xã Lũng Cú, Yên Phú, Đảng ủy, UBND xã chú trọng đánh giá tiến độ thực hiện, giải ngân các nguồn vốn đầu tư công và chương trình mục tiêu quốc gia; đồng thời quan tâm công khai, minh bạch trong quản lý, lắng nghe ý kiến Nhân dân và kịp thời tháo gỡ những khó khăn liên quan đến đất đai, hạ tầng. Giải quyết kịp thời những vấn đề thiết thực từ cơ sở góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phương châm “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” được cụ thể hóa bằng những giải pháp sát thực tiễn, gắn với đời sống Nhân dân, qua đó tạo sự đồng thuận trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Thông qua Đề án 57, lực lượng quân đội tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức và cảnh giác của đồng bào trước các luận điệu chia rẽ, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tại cơ sở. Các hoạt động tri ân, trong đó có chương trình “Tháng 7 tri ân” tại xã Linh Hồ và các đợt khám bệnh miễn phí cho người có công, thể hiện sự quan tâm đối với các đối tượng chính sách, đồng thời lan tỏa tinh thần tương thân, tương ái và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong thời gian tới, các địa bàn vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn nhiều hạn chế về hạ tầng, nguồn lực và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Trước yêu cầu đó, việc lấy người dân làm trung tâm, coi trọng nội lực, phát huy sức mạnh cộng đồng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Nhà nước tiếp tục là cơ sở để Tuyên Quang thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
