
Du khách chụp ảnh lưu niệm tại Đình Tân Trào - điểm di tích nằm trong Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Tân Trào của tỉnh Tuyên Quang.
Tiềm năng, thực trạng và yêu cầu đổi mới tư duy
Tuyên Quang có vị trí địa chính trị, địa kinh tế quan trọng, là điểm kết nối chiến lược giữa Thủ đô Hà Nội với vùng trung du, miền núi phía Bắc và các hành lang kinh tế quốc tế. Tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, nổi bật là Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình. Cùng với đó là ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, thảo nguyên Suối Thầu, hệ thống lòng hồ, sông, suối, rừng đặc dụng; các địa danh lịch sử cách mạng như Kim Bình, Lũng Cú, Vị Xuyên, Căng Bắc Mê; nguồn khoáng nóng tại Mỹ Lâm, Quảng Ngần, Nậm Choong, Hoàng Su Phì; và nhiều lễ hội, tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc như Lễ hội Thành Tuyên, Chợ Phong lưu Khâu Vai, Lễ hội hoa Tam giác mạch, Lễ hội Nhảy lửa... Đây là cơ sở để xây dựng hệ thống sản phẩm đa dạng, gồm du lịch văn hóa, lịch sử, sinh thái, cộng đồng, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe và thể thao mạo hiểm.
Những năm qua, du lịch của tỉnh có bước phát triển tích cực, từng bước khẳng định vị thế là ngành kinh tế quan trọng. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch bền vững được chú trọng; hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, sản phẩm, xúc tiến quảng bá và liên kết từng bước được cải thiện. Thôn Lô Lô Chải được vinh danh “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025”; Cao nguyên đá Đồng Văn được trao giải “Điểm đến văn hóa hàng đầu thế giới năm 2025”, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thương hiệu du lịch Tuyên Quang.
Tuy nhiên, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Sản phẩm chất lượng cao và dịch vụ cao cấp còn thiếu; hạ tầng chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu; việc thu hút dự án đầu tư quy mô lớn và liên kết vùng còn nhiều hạn chế. Các hạn chế này có quan hệ với nhau: hạ tầng và dịch vụ chưa tốt thì khó thu hút khách chi tiêu cao; chưa có nhiều khách chi tiêu cao thì khó thu hút nhà đầu tư lớn; thiếu đầu tư thì hạ tầng, sản phẩm và nhân lực khó được cải thiện. Do đó, cần giải quyết các khâu này một cách đồng bộ.
Nghị quyết số 117-NQ/TU được ban hành để quán triệt Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 07/9/2026 của Chính phủ và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; đồng thời thay thế Nghị quyết số 92-NQ/TU ngày 13/5/2026. Phát triển du lịch được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả phát triển du lịch trên địa bàn, lĩnh vực phụ trách. Hiệu quả được đánh giá bằng chất lượng sản phẩm, thời gian lưu trú, mức chi tiêu và lợi ích mang lại cho cộng đồng; thực hiện nhất quán phương châm “bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn”, không đánh đổi môi trường, cảnh quan, di sản và bản sắc văn hóa để lấy tăng trưởng trước mắt.

Sắc hoa Tam giác mạch hòa cùng trang phục truyền thống phụ nữ vùng cao, tạo nên bức tranh văn hóa giữa cao nguyên đá Tuyên Quang.
Mục tiêu và giải pháp trọng tâm
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu đón 6 triệu lượt khách, trong đó khoảng 900 nghìn lượt khách quốc tế; tổng chi tiêu của khách du lịch khoảng 17.000 tỷ đồng; đóng góp trực tiếp của du lịch trên 10% GRDP; quy mô cơ sở lưu trú trên 16.500 buồng; tạo việc làm cho khoảng 40.000 lao động, trong đó khoảng 10.000 lao động trực tiếp. Tối thiểu 10% khu, điểm du lịch đạt tiêu chí hoặc nhãn du lịch xanh; 100% khu, điểm du lịch cung cấp thông tin trên nền tảng số. Đến năm 2050, du lịch đóng góp trực tiếp trên 15% GRDP, Tuyên Quang thuộc nhóm các trung tâm du lịch quan trọng của vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Về thể chế và nguồn lực, tỉnh đẩy nhanh việc lập, phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết tại các khu, điểm du lịch trọng điểm; xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, phí, thủ tục và mặt bằng để thu hút nhà đầu tư chiến lược; thiết lập quy trình “luồng xanh” rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đối với các dự án lớn; hoàn thiện cơ chế hợp tác công tư. Nguồn lực được ưu tiên cho bảo tồn kiến trúc, du lịch cộng đồng, sản phẩm OCOP và hạ tầng thiết yếu tại vùng sâu, vùng xa có tiềm năng.
Về hạ tầng và không gian du lịch, tỉnh ưu tiên triển khai giai đoạn 2 tuyến cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang, hoàn thiện kết nối với Hà Nội, Cao Bằng, Lào Cai, Thái Nguyên và hành lang kinh tế cửa khẩu với Vân Nam, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc); nâng cấp Quốc lộ 2, 2C, 34, 4C, 279; đầu tư bến thủy nội địa trên lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, sông Gâm, sông Lô, sông Nho Quế; bố trí điểm dừng chân, bãi đỗ xe, nhà vệ sinh công cộng, biển chỉ dẫn đa ngôn ngữ. Tỉnh hình thành 02 trung tâm dịch vụ, trung chuyển du lịch tại khu vực trung tâm Tuyên Quang và trung tâm Hà Giang; thu hút đầu tư cơ sở lưu trú 4 đến 5 sao, trung tâm hội nghị, khu vui chơi giải trí tại các địa bàn trọng điểm.
Về sản phẩm và thị trường, tỉnh phát triển bốn nhóm sản phẩm chủ đạo: du lịch “về nguồn” gắn với Tân Trào, Kim Bình, Lũng Cú, Vị Xuyên, Căng Bắc Mê; du lịch di sản địa chất, sinh thái và trải nghiệm tri thức bản địa tại Cao nguyên đá Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Na Hang - Lâm Bình; du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, chăm sóc sức khỏe và thể thao; du lịch tâm linh, lễ hội gắn với công nghiệp văn hóa. Thị trường trọng tâm là nội địa, đồng thời mở rộng sang Trung Quốc, Đông Bắc Á, Đông Nam Á, châu Âu, ưu tiên khách có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày. Phấn đấu 100% sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên tham gia chuỗi cung ứng tại các cơ sở lưu trú xếp hạng 3 đến 5 sao.
Về thương hiệu và liên kết, tỉnh xây dựng bộ nhận diện thống nhất trên hình ảnh “Thủ đô kháng chiến” gắn với “Miền đá nở hoa”; xây dựng dữ liệu nội dung gốc đa ngôn ngữ phục vụ truyền thông; triển khai Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc”; tăng cường liên kết với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm du lịch lớn để hình thành tuyến, chuỗi sản phẩm liên vùng.
Về nhân lực và chuyển đổi số, tỉnh đẩy mạnh hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo; ưu tiên đào tạo kỹ năng cho hộ làm du lịch cộng đồng, lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ sở dữ liệu du lịch được đồng bộ và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển cổng thông tin đa ngôn ngữ, bản đồ du lịch số, vé điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt; số hóa thủ tục xuất nhập cảnh tại Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy và các cửa khẩu khác.
Về bảo vệ môi trường và quản trị điểm đến, tỉnh kiểm soát chặt mật độ xây dựng, chiều cao, kiến trúc công trình tại vùng lõi di sản, khu bảo tồn thiên nhiên, khu vực lòng hồ; không cấp phép công trình có nguy cơ phá vỡ cảnh quan; đánh giá sức chứa, sức tải môi trường; xử lý rác thải, hướng tới “Điểm đến không rác thải nhựa”; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai. Đồng thời xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá chất lượng điểm đến, tăng cường thanh tra, xử lý các hành vi chèo kéo, ép giá, thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh của du khách, siết chặt kỷ cương trong quản lý đất đai và trật tự xây dựng.
Phát triển du lịch gắn với việc làm và thu nhập của người dân. Nghị quyết xác định Nhân dân và cộng đồng dân cư là chủ thể tham gia bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, phát triển du lịch và được thụ hưởng công bằng thành quả; khuyến khích nghệ nhân truyền dạy tri thức dân gian, số hóa văn hóa phi vật thể, phát huy tinh thần “Mỗi người dân là một đại sứ du lịch”. Để tổ chức thực hiện, các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở cụ thể hóa Nghị quyết bằng chương trình, kế hoạch hành động; đưa mục tiêu, chỉ tiêu du lịch vào kế hoạch công tác hằng năm; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy giám sát trách nhiệm của người đứng đầu. Việc thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ trên là điều kiện để du lịch Tuyên Quang từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Ban Biên tập Cổng TTĐT tỉnh
