
Lực lượng BQL rừng phòng hộ Lâm Bình phối hợp với các lực lượng chức năng tuần tra, kiểm tra, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Tại xã Lâm Bình, anh Nguyễn Văn Lâm, thành viên Tổ bảo vệ rừng chuyên trách xã Lâm Bình thuộc Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Lâm Bình cùng các thành viên trong Tổ được phân công phụ trách, bảo vệ trên 18 nghìn ha rừng. Trung bình mỗi tháng, Tổ thực hiện 12 lượt tuần tra, kiểm tra rừng; tập trung tại các tuyến, khu vực trọng điểm, khu vực giáp ranh và những nơi có nguy cơ xảy ra vi phạm.
Đồng chí Triệu Minh Phúc, Quyền Giám đốc BQL rừng phòng hộ Lâm Bình cho biết: BQL hiện được giao quản lý trên 46 nghìn ha đất lâm nghiệp trên địa bàn các xã Thượng Lâm, Lâm Bình, Bình An và Minh Quang, phần lớn diện tích là rừng phòng hộ có vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, điều hòa môi trường và duy trì hệ sinh thái rừng. Với diện tích quản lý lớn, địa bàn rộng, địa hình phức tạp, BQL duy trì 06 Tổ bảo vệ rừng trực thuộc, mỗi Tổ có từ 3 - 4 thành viên, được phân công phụ trách từng khu vực và thường xuyên bám sát địa bàn. Bên cạnh lực lượng bảo vệ rừng của đơn vị, Ban tăng cường phối hợp với kiểm lâm, chính quyền địa phương và các lực lượng liên quan; đồng thời tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ rừng, các lực lượng tại cơ sở và người dân góp phần tạo nên ‘lá chắn’ bảo vệ rừng ngay từ cơ sở, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các nguy cơ xâm hại tài nguyên rừng.
Xã Minh Tân nơi phần lớn đồng bào dân tộc Mông sinh sống giữa vùng lõi rừng đặc dụng Phong Quang. Ít ai biết rằng, trước đây, nơi này từng là điểm nóng về khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Theo ông Vàng Seo Sính, Tổ trưởng Tổ bảo vệ rừng thôn Hoàng Lỳ Pả, bước ngoặt bắt đầu từ khi mô hình tổ tự quản bảo vệ rừng được thành lập, gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Từ chỗ coi rừng là nguồn tài nguyên để khai thác, người dân dần nhận thức rõ hơn giá trị của việc giữ rừng và những lợi ích thiết thực mà rừng mang lại cho cuộc sống. Khi quyền lợi gắn với trách nhiệm, người dân trở thành những “người gác rừng” ngay trên chính quê hương mình, bà con chủ động tham gia tuần tra, phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Hiện, Tổ tự quản bảo vệ rừng duy trì tuần tra thường xuyên trên diện tích hơn 2.000 ha, góp phần giữ màu xanh bền vững cho những cánh rừng nguyên sinh.
Tuyên Quang hiện có hơn 300 tổ tự quản bảo vệ rừng, trở thành lực lượng xung kích tại cơ sở. Với diện tích đất lâm nghiệp trên 1 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng trên 62% đứng thứ 2 cả nước, kết quả quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh có sự đóng góp quan trọng từ mô hình “dân giữ rừng”. Cùng với bảo vệ rừng, tỉnh đang từng bước khai thác giá trị kinh tế từ rừng theo hướng bền vững.
Trong 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh trồng rừng tập trung 14.990,9 ha, đạt 109,4% kế hoạch; trồng cây phân tán quy diện tích đạt 1.471,4 ha, bằng 105,1% kế hoạch. Khai thác rừng trồng đạt trên 1 triệu m³ gỗ, bằng 79,4% kế hoạch; khai thác tre, nứa đạt 27.623,5 tấn, bằng 92,1% kế hoạch. Đến nay, toàn tỉnh có 96.582 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm lâm nghiệp, mở rộng thị trường và cải thiện thu nhập cho người trồng rừng.

Lực lượng Kiểm lâm khu vực XVI hướng dẫn người dân ứng dụng nền tảng số, lan tỏa thông tin tuyên truyền “Tiếng loa Kiểm lâm” tại chợ Mỏ Phàng, xã Sơn Vĩ.
Một hướng đi mới đang được tỉnh triển khai là thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng trong hoạt động du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh thái Na Hang - Lâm Bình. Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh du lịch khai thác cảnh quan rừng có trách nhiệm đóng góp một phần doanh thu để chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Chính sách này thể hiện tư duy phát triển mới, khai thác giá trị dịch vụ của rừng phải song hành với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Để chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục phát huy hiệu quả, tỉnh hướng tới nâng cao chất lượng quản lý rừng gắn với chuyển đổi số trong lĩnh vực lâm nghiệp. Việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về dịch vụ môi trường rừng sẽ góp phần theo dõi tình trạng rừng, sản lượng điện thương phẩm của các nhà máy thủy điện, qua đó nâng cao tính chính xác, minh bạch và công bằng trong xác định mức chi trả.
Theo đồng chí Nguyễn Thế Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ tạo thêm nguồn lực tài chính cho công tác quản lý, bảo vệ rừng mà còn góp phần thay đổi nhận thức, nâng cao trách nhiệm của người dân sống gần rừng. Khi quyền lợi được gắn với trách nhiệm, người dân trở thành những “người gác rừng” tích cực, chủ động tham gia tuần tra, phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Từ thực tiễn đó, tỉnh tiếp tục duy trì, nhân rộng các tổ tự quản bảo vệ rừng; quan tâm hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị, nâng cao năng lực cho lực lượng tại cơ sở. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý lâm nghiệp, xây dựng cơ sở dữ liệu về rừng và dịch vụ môi trường rừng nhằm nâng cao tính chính xác, công khai trong xác định và chi trả nguồn lực.../.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
