
Những hình ảnh của Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng được lưu giữ tại Khu lưu niệm tại xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia (từ 2006).
Đồng chí Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 01/3/1906 trong một gia đình trí thức ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Năm 1921, tốt nghiệp Trường Tiểu học Đông Ba và thi đỗ vào học trường Quốc học Huế; trong thời gian theo học tại đây, Phạm Văn Đồng có dịp tiếp xúc với sách báo tiến bộ và sớm hòa mình vào phong trào yêu nước của học sinh. Giữa năm 1924, Phạm Văn Đồng rời trường Quốc học Huế ra Hà Nội, thi đỗ vào học bậc tú tài tại Trường Bưởi. Những năm 1925 - 1926, Phạm Văn Đồng tham gia phong trào bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh. Năm 1926, sau khi giác ngộ cách mạng, Phạm Văn Đồng tham dự lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức, giảng dạy và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 4/1927, đồng chí về nước, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Nam Kỳ.

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng - Chủ tịch Hội đồng chi viện tiền phương Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ 1953 được trưng bày, lưu giữ tại Khu lưu niệm.
Tháng 3/1929, đồng chí được bầu làm Bí thư Kỳ bộ Nam Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 5/1929, đồng chí tham dự Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Hương Cảng (Hồng Kông) và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Tổng bộ Hội. Tháng 7/1929, đồng chí bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn; bị tòa án thực dân kết án 10 năm tù giam và đầy ra Côn Đảo.
Giữa năm 1936, trước áp lực các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận Nhân dân Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng được trả tự do, trở lại Hà Nội. Tuy bị quản thúc, đồng chí vẫn tìm cách bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 5/1940, đồng chí được cử sang Côn Minh (Trung Quốc) làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị cho sự trở về nước của Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam của. Tại đây, đồng chí Phạm Văn Đồng được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; tham gia hoạt động cách mạng ở Liễu Châu, Tĩnh Tây (Trung Quốc).
Năm 1941, trở về Cao Bằng hoạt động, đồng chí tích cực tham gia quá trình vận động, tổ chức Mặt trận Việt Minh; tham gia phụ trách báo Việt Nam độc lập, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị lực lượng và các điều kiện tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay Nhân dân. Tháng 8/1945, tại Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào, Đồng chí được cử làm Ủy viên Thường trực Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời; được Quốc hội khóa I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.
Cuối tháng 5/1946, đồng chí được cử làm Trưởng Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán chính thức với Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hội nghị Phông-ten-no-blô. Tháng 01/1947, đồng chí là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là Đặc phái viên của Trung ương và Chính phủ chỉ đạo trực tiếp công cuộc kháng chiến, kiến quốc ở Nam Trung Bộ. Năm 1949, đồng chí trở lại Việt Bắc, được cử là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhận cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao. Từ Đại hội II đến Đại hội VI của Đảng (1951 - 1986), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1955 - 1987, đồng chí được giao đảm nhiệm trọng trách Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1981), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1987); kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1954 - 1961); là Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954). Từ năm 1986 - 1997, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là Đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, VI, VII.

Bức ảnh Cố Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng được chụp tại Khu lưu niệm.

Những đồ vật của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Khu lưu niệm.
Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII (từ năm 1946 - 1987), đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta; được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Sao vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Không chỉ là nhà lãnh đạo xuất sắc, đồng chí Phạm Văn Đồng còn là nhà ngoại giao tài năng, nhà lý luận chính trị và văn hóa lớn. Với phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh – kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược – đồng chí được bạn bè quốc tế kính trọng, đánh giá cao. Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đồng chí có nhiều công trình, bài viết có giá trị sâu sắc về tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa dân tộc, giáo dục con người mới, đặt nền móng cho ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam.
Suốt cuộc đời, đồng chí Phạm Văn Đồng là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nói đi đôi với làm; tận trung với Đảng, tận hiếu với dân. Dù ở cương vị nào, đồng chí cũng sống giản dị, gần gũi với Nhân dân, hết lòng vì lợi ích của đất nước. Đồng chí từ trần ngày 29/4/2000, hưởng thọ 94 tuổi, để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tưởng nhớ và tri ân sâu sắc công lao to lớn của một nhà lãnh đạo kiệt xuất; đồng thời tiếp tục học tập, noi theo tấm gương đạo đức, phong cách, trí tuệ của đồng chí, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh bình luận
