
Ảnh minh họa.
Kế hoạch được triển khai thực hiện theo Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1069/QĐ-BYT ngày 17/4/2026 của Bộ Y tế. Mục tiêu chung là duy trì mức sinh hợp lý trên địa bàn tỉnh, từng bước giảm sinh tại các địa bàn có mức sinh cao, thu hẹp chênh lệch mức sinh giữa các vùng, nhóm dân cư, qua đó góp phần phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững của tỉnh.
Theo Kế hoạch, đến năm 2030, Tuyên Quang phấn đấu đưa mức sinh từ mức cao về mức sinh thay thế, khoảng 2,1 con/phụ nữ; thu hẹp chênh lệch mức sinh giữa các địa bàn, nhóm dân cư. Tỉnh đặt mục tiêu trên 95% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế; 100% UBND xã, phường thực hiện chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
Để thực hiện mục tiêu, tỉnh yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; căn cứ thực trạng và xu hướng mức sinh, các xã, phường xây dựng kế hoạch với chỉ tiêu cụ thể hướng tới đạt và duy trì mức sinh thay thế. Kết quả thực hiện các mục tiêu về mức sinh được giao gắn với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị, nhất là người đứng đầu.
Công tác tuyên truyền, vận động được đổi mới theo hướng đa dạng, phù hợp từng địa bàn, nhóm đối tượng. Tập trung vận động các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, không sinh quá nhiều con, thực hiện sinh con có kế hoạch và bảo đảm khoảng cách sinh hợp lý. Tại địa bàn có mức sinh cao, tăng cường truyền thông, vận động giảm sinh; tại địa bàn đã đạt mức sinh thay thế, tiếp tục duy trì ổn định, từng bước thu hẹp chênh lệch mức sinh giữa các vùng, nhóm dân cư. Tỉnh chú trọng sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội và truyền thông trực tiếp tại hộ gia đình, thôn, bản, tổ dân phố. Tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cường truyền thông bằng tiếng dân tộc, phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, cộng tác viên dân số và nhân viên y tế thôn bản. Đồng thời, đổi mới giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản, giáo dục giới tính và kỹ năng sống trong nhà trường phù hợp từng cấp học, lứa tuổi.
Cùng với tuyên truyền, Kế hoạch đề ra các giải pháp rà soát, cụ thể hóa chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản; nghiên cứu chính sách hỗ trợ phương tiện tránh thai, chi phí dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, đồng bào dân tộc miền núi và địa bàn đặc biệt khó khăn. Tỉnh mở rộng tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản; tăng cường tư vấn, kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm và can thiệp các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng dân số, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới.
Theo phụ lục Kế hoạch, trong quý III/2026, Sở Y tế chủ trì xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình đến năm 2030. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về dân số; riêng giai đoạn 2026-2027 rà soát, kiện toàn tổ chức, nhân lực làm công tác dân số phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Hằng năm, các cơ quan, địa phương đưa chỉ tiêu quy mô dân số, mức sinh vào nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động; mở rộng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản và tăng cường cung cấp dịch vụ tại vùng khó khăn.
UBND xã, phường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phù hợp thực tế; bố trí kinh phí, huy động nguồn lực; đưa mục tiêu, chỉ tiêu về quy mô dân số và mức sinh vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030; tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Việc thực hiện Kế hoạch được lồng ghép với các chương trình, kế hoạch, đề án có liên quan, trong đó có Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2030, bảo đảm thống nhất trong chỉ đạo, điều hành, huy động và sử dụng nguồn lực, tránh trùng lặp, chồng chéo nhiệm vụ. Qua đó, Tuyên Quang hướng tới duy trì mức sinh hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, xây dựng quy mô và cơ cấu dân số phù hợp, tạo nền tảng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong giai đoạn mới.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
